Bị hại và người đại diện của bị hại có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo hướng bất lợi cho bị cáo: đề nghị tăng hình phạt, đề nghị xét xử về tội nặng hơn, đề nghị không cho hưởng án treo. Theo nguyên tắc tố tụng, toà phúc thẩm chỉ được xử nặng hơn cho bị cáo khi có kháng cáo của bị hại hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát theo hướng đó, nên lá đơn của bị hại có vai trò thật sự.
Cảm giác "bản án quá nhẹ" rất dễ hiểu, nhất là khi thiệt hại lớn hoặc có người mất. Nhưng đơn chỉ có sức nặng khi chỉ ra được toà sơ thẩm sai hoặc thiếu ở đâu. Bài này đi qua những căn cứ hay gặp, cách chứng minh, việc đề nghị Viện kiểm sát kháng nghị song song, và các bước làm đơn. Hạn kháng cáo là mười lăm ngày, chi tiết cách tính xem ở chuyên mục thời hạn.
Bị hại được kháng cáo những gì, và ai đứng đơn
Bị hại là người bị thiệt hại trực tiếp về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra, có thể là cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức. Phạm vi kháng cáo của bị hại rộng: tội danh, hình phạt, việc cho hưởng án treo, bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng liên quan tới mình. Bị hại cũng có thể kháng cáo theo hướng có lợi cho bị cáo, ví dụ khi hai bên đã hoà giải và bị hại muốn đề nghị giảm nhẹ.
Khi bị hại đã chết, người đại diện của bị hại, thường là người thân thích có tên trong bản án, thực hiện quyền kháng cáo. Khi bị hại là người dưới 18 tuổi hoặc có nhược điểm về thể chất, tâm thần, cha mẹ, người giám hộ đứng ra; người bảo vệ quyền lợi của bị hại trong trường hợp này cũng tự có quyền kháng cáo. Nếu nhiều người thân cùng muốn kháng cáo, nên thống nhất một đơn hoặc ít nhất thống nhất yêu cầu, tránh mỗi người một hướng.
Bị hại là tổ chức thì người đại diện theo pháp luật hoặc người được uỷ quyền hợp lệ ký đơn. Phạm vi uỷ quyền kháng cáo có những yêu cầu riêng, nên xem kỹ trước khi giao cho người khác làm.
Những căn cứ khiến đề nghị tăng hình phạt có cơ sở
Tình tiết tăng nặng bị bỏ sót. Bộ luật Hình sự có danh sách tình tiết tăng nặng, như phạm tội có tính chất côn đồ, phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mang thai, người già, tái phạm. Nếu hồ sơ cho thấy tình tiết đó có thật mà bản án không áp dụng, đây là căn cứ rõ ràng nhất.
Tình tiết giảm nhẹ áp dụng không đúng. Ví dụ giả định: bản án ghi bị cáo "đã tự nguyện bồi thường", trong khi thực tế bị cáo mới hứa và chưa trả đồng nào; hoặc ghi "thành khẩn khai báo" trong khi bị cáo chối tội đến cuối phiên. Bị hại chỉ ra sự kiện thực tế, kèm chứng cứ.
Hậu quả bị đánh giá thấp. Thương tích tiến triển nặng hơn sau thời điểm giám định, hoặc thiệt hại tài sản lớn hơn con số được dùng. Nếu con số đó quyết định khung, bị hại có thể đề nghị giám định bổ sung, định giá lại.
Áp dụng sai tội danh hoặc khung. Bị hại cho rằng hành vi phải thuộc tội nặng hơn hoặc khung nặng hơn. Đây là lập luận pháp lý, cần chỉ ra yếu tố cụ thể của tội nặng hơn đã được chứng minh trong hồ sơ.
Cho hưởng án treo khi chưa đủ điều kiện. Án treo có điều kiện về mức phạt, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ và các trường hợp loại trừ. Nếu bị cáo có tiền án chưa xoá hay thuộc trường hợp không được hưởng án treo theo hướng dẫn, bị hại nêu rõ.
Điều bản án tuyên, điều bị hại cho rằng, và cách chứng minh
Bảng gợi cách sắp xếp lý do theo từng điểm của bản án. Ví dụ đều là ví dụ giả định.
| Bản án sơ thẩm | Bị hại cho rằng | Cách chứng minh |
|---|---|---|
| Áp dụng tình tiết giảm nhẹ "đã bồi thường" | Bị cáo chưa bồi thường hoặc chỉ trả một phần nhỏ | Xác nhận của bị hại, sao kê tài khoản cho thấy không có khoản nhận |
| Không áp dụng tình tiết tăng nặng về đối tượng bị hại | Bị hại là người trên một độ tuổi nhất định hoặc đang mang thai lúc bị tấn công | Giấy tờ nhân thân, hồ sơ khám thai có ngày rõ ràng |
| Tỷ lệ tổn thương theo giám định lần đầu | Thương tích để lại di chứng nặng hơn sau điều trị | Hồ sơ điều trị tiếp theo, đề nghị giám định bổ sung |
| Cho hưởng án treo | Bị cáo từng bị kết án về tội tương tự, chưa được xoá án tích | Thông tin lý lịch tư pháp nếu có, hoặc đề nghị toà xác minh |
| Xác định vai trò thứ yếu | Bị cáo là người khởi xướng, trực tiếp gây thương tích chính | Lời khai của người làm chứng trong hồ sơ, dữ liệu hình ảnh đã thu giữ |
Nếu bị hại không tự tiếp cận được hồ sơ, luật sư hoặc người bảo vệ quyền lợi của bị hại được đọc và sao chụp hồ sơ theo quy định.
Đề nghị Viện kiểm sát kháng nghị song song
Ngoài kháng cáo của mình, bị hại có thể gửi văn bản đề nghị Viện kiểm sát xem xét kháng nghị phúc thẩm. Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên có quyền kháng nghị trong thời hạn riêng. Kháng nghị và kháng cáo độc lập với nhau; có cả hai thì toà phúc thẩm xem xét theo cả hai.
Văn bản đề nghị nên ngắn gọn, nêu đúng các căn cứ như trong đơn kháng cáo, kèm bản sao tài liệu. Không nên chỉ chờ Viện kiểm sát mà bỏ quyền kháng cáo của mình: Viện kiểm sát quyết định kháng nghị hay không theo đánh giá riêng, bị hại không thể ép. Nếu bị hại không kháng cáo và Viện kiểm sát cũng không kháng nghị phần đó, toà phúc thẩm không thể tăng hình phạt.
Quyền kháng nghị của Viện kiểm sát và giám đốc thẩm thuộc một mảng riêng; ở đây chỉ nhắc để bị hại biết đây là kênh song song, không thay kháng cáo.
Các bước làm kháng cáo của bị hại
Thứ tự dưới đây giả định bị hại hoặc người đại diện có mặt tại phiên sơ thẩm.
- Ghi lại phần tuyên án, xin bản án sớm. Thống nhất trong gia đình ai là người đứng đơn nếu bị hại đã chết hoặc là người dưới 18 tuổi.
- Đọc phần nhận định, đánh dấu từng điểm mà bị hại không đồng ý, xếp theo mẫu bảng ở trên.
- Viết đơn kháng cáo: thông tin người kháng cáo và tư cách, bản án bị kháng cáo, phần kháng cáo, lý do đánh số, yêu cầu cụ thể.
- Nộp đơn tại toà đã xử sơ thẩm hoặc toà cấp phúc thẩm theo quy định, giữ bản sao và xác nhận đã nộp.
- Gửi văn bản đề nghị Viện kiểm sát xem xét kháng nghị nếu muốn, kèm bản sao đơn kháng cáo.
- Chuẩn bị tài liệu bổ sung, theo dõi thông báo của toà, chuẩn bị trình bày tại phiên phúc thẩm.
Giữ mục tiêu thực tế khi kháng cáo
Kháng cáo của bị hại không nhằm trả thù và cũng không thay đổi được mất mát đã xảy ra. Toà phúc thẩm xét lại tính đúng đắn của bản án theo chứng cứ, không xét theo mức độ đau buồn của gia đình. Điều này không làm giảm ý nghĩa của việc bị hại lên tiếng, nhưng giúp đặt kỳ vọng đúng.
Có những trường hợp bị hại cùng lúc muốn bị cáo chịu hình phạt nghiêm và muốn được bồi thường đầy đủ. Hai mong muốn này không loại trừ nhau, nhưng có lúc bị cáo và gia đình chủ động bồi thường, xin lỗi trong thời gian chờ phúc thẩm. Bị hại hoàn toàn có quyền nhận bồi thường mà vẫn giữ kháng cáo về hình phạt; nếu muốn thay đổi yêu cầu, bị hại làm văn bản rút một phần kháng cáo. Quyết định là của bị hại, không ai được ép.
Kháng cáo cũng tốn thời gian và sức lực, nhất là khi bị hại đang điều trị hay gia đình vừa có tang. Nếu đã cân nhắc và vẫn thấy bản án sai ở điểm cụ thể, nên làm; nếu chỉ vì thấy chưa thoả lòng mà không chỉ được sai sót, nên hỏi người làm nghề trước.
Ví dụ giả định: gia đình nạn nhân trong một vụ tai nạn giao thông
Một người đàn ông ở Lâm Đồng chết sau khi bị xe tải tông trong lúc tài xế đã uống rượu. Toà sơ thẩm xử tài xế mức phạt tù có thời hạn và cho hưởng án treo, ghi nhận các tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, đã bồi thường, gia đình người bị hại có đơn xin giảm nhẹ. Vợ của nạn nhân, là người đại diện của bị hại, không đồng ý.
Khi ngồi lại với luật sư, gia đình thấy ba điểm. Đơn xin giảm nhẹ trong hồ sơ do một người họ hàng ký, không phải người đại diện của bị hại. Khoản "đã bồi thường" mới chỉ là tiền hỗ trợ mai táng, phần cấp dưỡng cho hai con nhỏ chưa được giải quyết. Và việc điều khiển xe khi có nồng độ cồn là tình tiết mà luật có thể coi là định khung tăng nặng với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông, cần được xem xét lại.
Đơn kháng cáo của người vợ vì thế nêu đúng ba điểm đó, mỗi điểm kèm chứng cứ, và đề nghị không cho hưởng án treo, đồng thời đề nghị bổ sung khoản cấp dưỡng. Đơn không dùng lời lẽ công kích bị cáo. Ví dụ cho thấy một bản án "quá nhẹ" thường có những điểm cụ thể có thể chỉ ra được.
Luật sư bảo vệ quyền lợi bị hại và trợ giúp pháp lý
Bị hại có quyền nhờ luật sư hoặc người khác bảo vệ quyền lợi trong suốt quá trình tố tụng, kể cả ở giai đoạn phúc thẩm. Người bảo vệ được tiếp cận hồ sơ, đề nghị giám định, định giá, tham gia hỏi và tranh luận tại phiên toà. Với những vụ có người chết, thương tích nặng hoặc thiệt hại lớn, có người bảo vệ giúp bị hại không bị lép vế trước một bị cáo có luật sư.
Một số nhóm người được trợ giúp pháp lý miễn phí theo luật, như người thuộc hộ nghèo, trẻ em và một số nhóm khác; bị hại thuộc diện này có thể liên hệ Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước ở tỉnh, thành phố. Muốn có định hướng trước, bạn có thể hỏi luật sư trên AI Cố Vấn về những giấy tờ nên chuẩn bị cho đơn kháng cáo của bị hại.
Câu hỏi thường gặp
Bị hại kháng cáo thì toà phúc thẩm có chắc tăng án không?
Không chắc. Toà phúc thẩm xem xét lại theo chứng cứ và có thể giữ nguyên, tăng, hoặc trong một số trường hợp huỷ án để xét xử lại. Kháng cáo của bị hại chỉ mở ra khả năng tăng hình phạt, còn kết quả phụ thuộc vào căn cứ trong hồ sơ.
Người thân của bị hại đã chết có kháng cáo được không?
Được, nếu họ là người đại diện của bị hại được xác định trong vụ án. Thường là người thân thích như vợ, chồng, cha mẹ, con. Họ thực hiện các quyền của bị hại, kể cả quyền kháng cáo về hình phạt và bồi thường.
Đã nhận tiền bồi thường thì còn kháng cáo tăng hình phạt được không?
Được. Nhận bồi thường không làm mất quyền kháng cáo về hình phạt. Tuy nhiên nếu bị hại đã viết văn bản đề nghị giảm nhẹ cho bị cáo, việc sau đó kháng cáo đề nghị tăng án cần được giải thích rõ lý do để toà hiểu.
Bị hại có phải nộp tạm ứng án phí khi kháng cáo không?
Tuỳ phần kháng cáo và tư cách của người kháng cáo. Quy định về án phí, tạm ứng và miễn án phí nằm trong nghị quyết về án phí, lệ phí toà án; nên đọc kỹ thông báo của toà sau khi nộp đơn và xem chuyên mục án phí của trang.
Bị hại không đồng ý án treo nhưng đã quá hạn kháng cáo thì sao?
Có thể làm đơn kháng cáo quá hạn nếu có lý do chính đáng, toà sẽ xem xét. Ngoài ra có thể đề nghị Viện kiểm sát xem xét kháng nghị trong thời hạn của họ. Khi bản án đã có hiệu lực, đường còn lại là đề nghị giám đốc thẩm, khó hơn nhiều.
Bị hại có thể rút kháng cáo sau khi hoà giải với bị cáo không?
Có. Bị hại có quyền rút một phần hoặc toàn bộ kháng cáo trước hoặc tại phiên phúc thẩm. Việc rút có hệ quả về phạm vi xét xử phúc thẩm, nên tìm hiểu trước khi làm.