Phần bồi thường thiệt hại trong bản án hình sự có thể được kháng cáo riêng, không kèm phần tội danh hay hình phạt: bị hại, nguyên đơn dân sự đề nghị tăng mức bồi thường; bị cáo, bị đơn dân sự đề nghị giảm hoặc xác định lại. Lý do kháng cáo có sức nặng khi gắn vào từng khoản cụ thể, như chi phí điều trị, thu nhập bị mất, tiền cấp dưỡng, tổn thất tinh thần, kèm chứng từ.
Bài này dành cho cả hai phía. Nó giải thích phần bồi thường gồm những khoản nào theo Bộ luật Dân sự, những lý do hay dùng để đòi thêm hoặc xin giảm, giấy tờ cần chuẩn bị và vài điểm khác biệt khi chỉ kháng cáo phần tiền. Con số trong bài là ví dụ giả định; mức cụ thể phụ thuộc chứng từ của từng vụ.
Phần bồi thường trong bản án hình sự gồm những gì
Khi tội phạm gây thiệt hại, toà giải quyết luôn việc bồi thường trong cùng vụ án hình sự, áp dụng các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Bộ luật Dân sự 2015. Bản án sẽ ghi ai phải bồi thường, cho ai, bao nhiêu, theo khoản nào, và phần đã trả trước đó được trừ ra sao. Người phải bồi thường thường là bị cáo; có trường hợp là bị đơn dân sự, như chủ doanh nghiệp có người làm công gây thiệt hại trong khi làm việc, hoặc cha mẹ của bị cáo dưới 18 tuổi.
Người được bồi thường là bị hại, người đại diện của bị hại đã chết, hoặc nguyên đơn dân sự, tức cá nhân, tổ chức bị thiệt hại và có yêu cầu bồi thường. Nguyên đơn dân sự và bị đơn dân sự chỉ có quyền kháng cáo phần bồi thường, không kháng cáo được hình phạt.
Có trường hợp toà tách phần bồi thường để giải quyết sau bằng một vụ án dân sự khác, khi chưa đủ điều kiện chứng minh mà không ảnh hưởng tới việc giải quyết phần hình sự. Nếu bản án có quyết định tách như vậy, người không đồng ý cũng có thể kháng cáo phần đó.
Các khoản bồi thường theo từng loại thiệt hại
Bảng tóm các nhóm khoản theo nguyên lý của Bộ luật Dân sự 2015. Mức bù đắp tổn thất tinh thần có giới hạn trần tính theo lương cơ sở; con số cụ thể đối chiếu văn bản hiện hành.
| Loại thiệt hại | Các khoản thường được xem xét | Chứng từ chính |
|---|---|---|
| Tài sản bị xâm phạm | Tài sản bị mất, bị huỷ hoại, hư hỏng; lợi ích gắn với việc sử dụng tài sản bị mất; chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục | Hoá đơn mua, kết quả định giá, báo giá sửa chữa |
| Sức khoẻ bị xâm phạm | Chi phí cứu chữa, phục hồi chức năng; thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút; chi phí và thu nhập mất của người chăm sóc; bù đắp tổn thất tinh thần | Hoá đơn viện phí, đơn thuốc, xác nhận thu nhập, hồ sơ bệnh án |
| Tính mạng bị xâm phạm | Chi phí cứu chữa trước khi chết; chi phí mai táng hợp lý; tiền cấp dưỡng cho người mà người chết có nghĩa vụ cấp dưỡng; bù đắp tổn thất tinh thần cho người thân thích | Hoá đơn mai táng, giấy tờ chứng minh quan hệ cấp dưỡng |
| Danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm | Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục; thu nhập bị mất; bù đắp tổn thất tinh thần | Tài liệu chứng minh chi phí, thu nhập bị ảnh hưởng |
Mỗi khoản được xác định riêng. Kháng cáo nên đi theo từng dòng của bảng này, thay vì chỉ nói "mức bồi thường quá thấp" hay "quá cao".
Lý do thường dùng khi bị hại đòi thêm
Khoản bị bỏ sót. Bản án chỉ tính viện phí mà không tính thu nhập bị mất của người chăm sóc, hoặc không tính tiền cấp dưỡng cho con nhỏ của người đã mất. Bị hại chỉ ra khoản đó và chứng từ đi kèm.
Chứng từ chưa được chấp nhận đủ. Toà loại một số hoá đơn vì cho rằng không liên quan. Nếu bị hại chứng minh được các khoản đó phục vụ điều trị thương tích do vụ việc, có thể đề nghị xem xét lại.
Thu nhập thực tế bị xác định thấp. Người làm tự do không có hợp đồng lao động thường bị tính theo mức thu nhập trung bình chung. Nếu có tài liệu về thu nhập thực tế, như sao kê, xác nhận của người thuê làm, sổ sách bán hàng, có thể đề nghị tính theo thu nhập thực tế.
Chi phí phát sinh sau phiên sơ thẩm. Điều trị tiếp, phẫu thuật lần hai, phục hồi chức năng sau khi bản án đã tuyên. Bị hại nộp chứng từ mới và giải thích mối liên hệ với thương tích ban đầu.
Tổn thất tinh thần được tính quá thấp. Mức bù đắp tổn thất tinh thần không có công thức cố định, toà cân nhắc mức độ thương tích, di chứng lâu dài, tuổi của bị hại và hoàn cảnh cụ thể. Nếu bị hại phải sống với di chứng vĩnh viễn mà mức tuyên chỉ tương đương một thương tích nhẹ, đơn nêu rõ di chứng đó kèm hồ sơ y tế.
Lý do thường dùng khi bị cáo hoặc bị đơn dân sự xin giảm
Khoản không có chứng từ hoặc không liên quan. Một số khoản được chấp nhận chỉ dựa vào lời kê khai, hoặc chi phí không phục vụ việc điều trị thương tích do vụ việc gây ra.
Bị hại cũng có lỗi. Khi người bị thiệt hại có lỗi trong việc gây ra thiệt hại, người gây thiệt hại chỉ bồi thường phần tương ứng với mức độ lỗi của mình. Đơn cần dẫn chứng cứ trong hồ sơ về lỗi của bị hại, không chỉ khẳng định.
Khả năng kinh tế và lỗi vô ý. Bộ luật Dân sự cho phép giảm mức bồi thường khi người gây thiệt hại không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình. Căn cứ này không áp dụng cho hành vi cố ý. Cần tài liệu về thu nhập, tài sản thực tế.
Khoản đã trả chưa được trừ. Bị cáo hoặc gia đình đã trả trước một khoản nhưng bản án chưa khấu trừ đủ. Đây là lý do đơn giản nhất, chỉ cần biên nhận rõ ràng.
Xác định sai người phải bồi thường. Bị đơn dân sự cho rằng mình không có trách nhiệm theo luật, ví dụ người gây thiệt hại không làm việc cho mình vào thời điểm đó.
Các bước kháng cáo phần bồi thường
Các bước áp dụng cho cả hai phía; khác nhau chủ yếu ở giấy tờ.
- Lập bảng các khoản bồi thường trong bản án: tên khoản, số tiền toà chấp nhận, số tiền mình cho là đúng, chênh lệch.
- Với mỗi chênh lệch, ghi lý do và chứng từ. Khoản nào không có chứng từ thì cân nhắc bỏ khỏi đơn, tránh làm loãng các khoản mạnh.
- Viết đơn kháng cáo, ghi rõ chỉ kháng cáo phần bồi thường, liệt kê từng khoản đề nghị sửa.
- Nộp đơn đúng hạn tại toà đã xử sơ thẩm hoặc toà cấp phúc thẩm theo quy định. Đọc kỹ thông báo của toà về án phí nếu có.
- Nộp bổ sung chứng từ mới cho toà cấp phúc thẩm, kèm văn bản giải thích mỗi chứng từ chứng minh khoản nào.
- Giữ liên lạc với bên kia nếu có khả năng thoả thuận; thoả thuận được thì báo cho toà.
Tiền cấp dưỡng sau khi người bị hại mất: chỗ hay tranh cãi nhất
Khi người bị hại chết, người gây thiệt hại phải cấp dưỡng cho những người mà người chết có nghĩa vụ cấp dưỡng khi còn sống, như con chưa thành niên, cha mẹ già không có khả năng lao động. Đây thường là khoản lớn nhất, kéo dài nhiều năm, và cũng là khoản hay bị tính thiếu hoặc bỏ sót trong bản án sơ thẩm.
Tranh cãi xoay quanh ba câu hỏi. Ai thật sự được cấp dưỡng: con đã đi làm có thu nhập thì không còn thuộc diện, cha mẹ còn khả năng lao động thường cũng không. Mức cấp dưỡng mỗi tháng dựa vào đâu: nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng và khả năng của người có nghĩa vụ. Thời gian cấp dưỡng tới bao giờ: với con chưa thành niên thường tới khi con đủ tuổi trưởng thành, trừ trường hợp con không có khả năng lao động.
Bị hại kháng cáo khoản này cần giấy khai sinh của con, giấy tờ về tình trạng sức khoẻ, khả năng lao động của cha mẹ già. Bị cáo kháng cáo xin giảm thì chỉ ra người được tính không thuộc diện, hoặc đề nghị chuyển sang trả một lần theo thoả thuận nếu bên kia đồng ý. Ví dụ giả định: bản án tính cấp dưỡng cho ba người con, trong đó một người đã có việc làm ổn định từ trước khi vụ việc xảy ra; bị cáo kháng cáo phần này kèm xác nhận nơi làm việc của người con đó.
Thoả thuận về bồi thường trong lúc chờ phúc thẩm
Bồi thường là phần mà hai bên dễ tự thoả thuận nhất. Sau bản án sơ thẩm, nếu bị cáo và bị hại thống nhất được một mức khác và cách trả, họ có thể lập văn bản thoả thuận, nộp cho toà phúc thẩm. Toà sẽ xem xét công nhận nếu thoả thuận tự nguyện và không trái luật. Với bị cáo, việc bồi thường thực tế còn là tình tiết giảm nhẹ về hình phạt. Với bị hại, nhận tiền sớm thường có giá trị hơn một con số cao trên giấy mà khó thi hành.
Văn bản thoả thuận nên ghi rõ: số tiền, đã trả bao nhiêu, còn lại trả khi nào, bằng cách nào, và hai bên đề nghị toà ghi nhận. Mọi khoản trả nên có biên nhận. Không ghi những cam kết liên quan tới hình phạt như "bị hại cam kết không kháng cáo nữa" theo kiểu đổi chác; nếu bị hại muốn rút kháng cáo, bị hại tự làm văn bản riêng.
Vụ có số tiền lớn hoặc có người chết nên có luật sư cho cả hai phía.
Câu hỏi thường gặp
Chỉ kháng cáo phần bồi thường thì phần hình phạt có bị xét lại không?
Nếu không ai kháng cáo, kháng nghị phần hình phạt, toà phúc thẩm thường chỉ xem xét phần bồi thường. Phần không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực theo quy định. Tuy nhiên toà vẫn có thể xem xét phần khác có liên quan trong một số trường hợp.
Người làm tự do không có giấy tờ thu nhập thì chứng minh thế nào?
Có thể dùng sao kê tài khoản, xác nhận của người thuê làm, sổ sách bán hàng, xác nhận của chính quyền nơi cư trú về nghề nghiệp. Nếu không chứng minh được thu nhập thực tế, toà thường tính theo mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại.
Tổn thất tinh thần được bồi thường tối đa bao nhiêu?
Bộ luật Dân sự đặt mức trần tính theo số lần lương cơ sở, khác nhau giữa thiệt hại sức khoẻ và tính mạng. Lương cơ sở thay đổi theo thời gian, nên đối chiếu mức áp dụng tại thời điểm giải quyết. Trong giới hạn đó, mức cụ thể do các bên thoả thuận hoặc toà quyết định.
Bị cáo không có tài sản thì kháng cáo đòi thêm bồi thường có ý nghĩa không?
Bản án là căn cứ để thi hành án lâu dài; nghĩa vụ không mất đi khi người phải thi hành chưa có tài sản. Tuy nhiên nên cân nhắc chi phí và công sức so với khả năng thu hồi thực tế.
Cha mẹ có phải bồi thường thay con dưới 18 tuổi phạm tội không?
Theo Bộ luật Dân sự, người chưa thành niên gây thiệt hại thì cha mẹ có trách nhiệm bồi thường theo các mức khác nhau tuỳ độ tuổi và tài sản riêng của con. Cha mẹ trong trường hợp này có thể có tư cách bị đơn dân sự và có quyền kháng cáo phần bồi thường.
Đã thoả thuận bồi thường ở phúc thẩm thì có cần giữ kháng cáo không?
Nếu thoả thuận giải quyết xong toàn bộ phần mình kháng cáo, người kháng cáo có thể rút phần đó và đề nghị toà ghi nhận thoả thuận. Nên làm văn bản rõ ràng để tránh hiểu lầm về phạm vi rút.