Quyền kháng cáo là quyền của từng người tham gia tố tụng, nên dù nhiều người cùng không đồng ý với một bản án, mỗi người vẫn là một người kháng cáo riêng: đơn phải thể hiện ý chí và chữ ký hoặc điểm chỉ của chính người đó, hạn kháng cáo xét theo hoàn cảnh của từng người, và thông báo nộp tạm ứng án phí phúc thẩm thường gửi tới từng người kháng cáo. Luật tố tụng quy định nội dung đơn theo "người kháng cáo" mà không đặt ra một mẫu đơn chung cho cả nhóm.
Trên thực tế, nhiều toà vẫn nhận một lá đơn do nhiều người cùng đứng tên, miễn là đơn ghi đủ thông tin và có chữ ký hoặc điểm chỉ của từng người. Nhưng một đơn chung tiện lúc nộp lại có thể gây rối về sau, nhất là khi một người muốn rút hay khi quyền lợi trong nhóm không hoàn toàn giống nhau. Bài này giúp bạn chọn giữa đơn chung và đơn riêng, và làm đúng nếu chọn cách nào.
Những nhóm hay gặp cảnh nhiều người cùng kháng cáo
Đồng thừa kế là nhóm gặp nhiều nhất. Ví dụ giả định: ba anh chị em cùng là bị đơn trong vụ chia di sản, bản án sơ thẩm chia mảnh đất của cha mẹ theo cách cả ba thấy chưa đúng. Họ cùng muốn kháng cáo, nhưng chưa chắc cùng một yêu cầu: người muốn nhận đất, người muốn nhận tiền, người chỉ không đồng ý cách định giá.
Vợ chồng cùng là bị đơn trong vụ đòi nợ hay tranh chấp hợp đồng là nhóm thứ hai. Thứ ba là nhiều người lao động cùng khởi kiện một doanh nghiệp về tiền lương, trợ cấp, hoặc nhiều hộ dân cùng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong một vụ đất đai. Trong vụ án hình sự có nhiều bị cáo hoặc nhiều bị hại, mỗi người cũng kháng cáo phần của mình.
Điểm chung của các nhóm này: cùng một bản án, cùng một thời điểm, nên ai cũng nghĩ tới chuyện "làm chung cho gọn". Điểm khác nhau nằm ở chỗ quyền lợi của từng người trong bản án có giống nhau thật không. Cùng phía chưa chắc đã cùng ý; khi đã ra toà phúc thẩm, khác biệt nhỏ trong nhóm có thể trở thành vấn đề lớn.
Đơn chung và đơn riêng: so sánh
Cả hai cách đều có thể được chấp nhận nếu đơn đủ nội dung. Bảng sau giúp bạn cân nhắc:
| Tiêu chí | Một đơn chung nhiều người ký | Mỗi người một đơn |
|---|---|---|
| Công sức chuẩn bị | Viết một lần, tiện khi yêu cầu giống hệt nhau | Viết nhiều lần, nhưng có thể dùng chung phần lý do |
| Chữ ký | Phải đủ chữ ký từng người trước khi nộp, một người vắng là cả đơn chờ | Ai xong trước nộp trước, không phụ thuộc người khác |
| Yêu cầu khác nhau | Dễ lẫn, phải tách rõ yêu cầu của từng người trong cùng đơn | Mỗi đơn nói rõ yêu cầu của một người |
| Khi một người muốn rút | Phải làm văn bản rút riêng, toà phải tách phần của người rút | Người đó rút đơn của mình, không đụng tới đơn khác |
| Thông báo của toà | Phải ghi địa chỉ nhận thông báo của từng người | Mỗi người nhận theo địa chỉ trong đơn của mình |
| Phù hợp nhất khi | Vợ chồng có cùng một nghĩa vụ, yêu cầu giống nhau, ở cùng chỗ | Quyền lợi khác nhau, ở xa nhau, hoặc có khả năng bất đồng về sau |
Nhìn chung, nếu còn chút nghi ngờ nào về việc cả nhóm có cùng ý đến cuối hay không, đơn riêng an toàn hơn. Đơn chung chỉ thật sự gọn khi yêu cầu giống hệt nhau và các bên gắn với nhau chặt chẽ.
Nếu chọn viết chung một đơn: làm cho đúng
Khi cả nhóm thống nhất làm một đơn, phần việc thêm so với đơn của một người nằm ở chỗ phải tách bạch từng người trong cùng một văn bản:
- Liệt kê từng người kháng cáo: họ tên, năm sinh, địa chỉ, tư cách tố tụng trong bản án (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan), cách liên lạc.
- Ghi bản án bị kháng cáo một lần: số, ngày tuyên, toà đã xử.
- Ghi phạm vi kháng cáo theo từng người, kể cả khi trùng nhau. Ví dụ: "Người thứ nhất và người thứ hai kháng cáo mục 2 phần quyết định; người thứ ba kháng cáo mục 2 và mục 4".
- Ghi lý do và yêu cầu; nếu yêu cầu khác nhau thì tách theo từng người, không gộp thành một câu chung chung.
- Mỗi người ký tên hoặc điểm chỉ bên dưới, cạnh họ tên của mình, kèm ngày ký nếu các chữ ký không cùng một ngày.
- Kèm giấy tờ tư cách của từng người khi cần, như văn bản uỷ quyền nếu một người ký thay người khác theo uỷ quyền.
- Nộp trong hạn sớm nhất áp dụng cho bất kỳ ai trong nhóm, giữ bản sao có ký nhận hoặc biên lai gửi.
Nếu một người chưa kịp ký, đừng giữ cả đơn lại chờ khi hạn của những người khác sắp hết. Những người đã ký nộp trước; người còn lại làm đơn riêng của mình.
Ba thứ luôn tính theo từng người, dù chung đơn
Hạn kháng cáo. Người có mặt khi tuyên án và người vắng mặt có lý do chính đáng có mốc tính hạn khác nhau, như đã quy định trong luật tố tụng. Một nhóm có người dự phiên toà, người không, thì không thể dùng chung một mốc. Mốc an toàn là mốc sớm nhất trong nhóm; chi tiết cách tính hạn nên đối chiếu riêng.
Tạm ứng án phí phúc thẩm. Theo quy định về án phí, lệ phí toà án, người kháng cáo phải nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, trừ người được miễn hoặc không phải nộp. Trong nhóm có thể có người được miễn, như người cao tuổi hay người lao động trong một số tranh chấp lao động, và người không được miễn. Mỗi người cần đọc kỹ thông báo toà gửi cho mình; ai được miễn thì nộp đơn đề nghị miễn kèm giấy tờ của chính mình.
Chữ ký và ý chí. Một người không thể ký thay người khác nếu không có uỷ quyền hợp lệ, kể cả là anh cả trong nhà hay chồng ký thay vợ. Toà xem đơn là của những ai đã ký; người không ký coi như chưa kháng cáo, dù tên họ có trong đơn.
Trước khi viết: cả nhóm ngồi lại thống nhất bốn điều
Phần lớn rắc rối của kháng cáo nhiều người không nằm ở lá đơn mà ở chỗ cả nhóm chưa nói rõ với nhau từ đầu. Trước khi ai cầm bút, nên dành một buổi đọc lại phần quyết định của bản án và trả lời chung bốn câu hỏi.
Một, mỗi người không đồng ý với mục nào của bản án; có mục nào chỉ một người muốn kháng cáo, người khác thấy chấp nhận được không. Hai, mỗi người muốn toà phúc thẩm sửa theo hướng nào; nếu hướng sửa của người này làm thiệt người kia thì đơn chung gần như chắc chắn không ổn. Ba, ai được miễn án phí, ai phải nộp tạm ứng, tiền tạm ứng do ai lo. Bốn, ai là người theo dõi thông báo của toà và báo lại cho cả nhóm.
Ghi lại kết quả buổi bàn bạc thành vài dòng cho từng người giữ. Đó không phải giấy tờ nộp toà, nhưng giúp tránh cảnh vài tháng sau mỗi người nhớ một kiểu. Nếu buổi bàn bạc lộ ra bất đồng, đó là tín hiệu nên tách đơn ngay, và có thể nên hỏi ý kiến luật sư trước khi nộp.
Khi trong nhóm có người đổi ý
Đây là lý do chính khiến nhiều người sau này tiếc vì đã làm chung một đơn. Ví dụ giả định: sau khi nộp đơn chung, người em út thoả thuận được với bên kia và muốn rút, trong khi hai anh chị vẫn muốn tiếp tục. Người em làm văn bản rút kháng cáo của riêng mình; toà xem xét phần rút đó, phần kháng cáo của hai người còn lại vẫn tiếp tục. Không ai buộc được người khác phải giữ hay rút kháng cáo theo mình.
Hệ quả của việc rút kháng cáo, như phần bản án liên quan tới người rút có hiệu lực từ khi nào và tiền tạm ứng án phí xử lý ra sao, là chủ đề riêng. Điều cần nhớ ở đây: một người rút không kéo theo cả nhóm, nhưng có thể làm thay đổi bức tranh chung. Trong vụ chia thừa kế chẳng hạn, phần của một người đã có hiệu lực có thể ảnh hưởng tới cách toà phúc thẩm nhìn phần còn lại.
Ngược lại cũng có tình huống ban đầu chỉ một người kháng cáo, sau đó người khác trong nhóm muốn tham gia. Nếu hạn kháng cáo của người đó còn, họ làm đơn riêng của mình; nếu đã hết hạn, họ không thể "nhập" vào đơn của người kia để được tính là kháng cáo đúng hạn.
Nhóm người lao động, nhiều bị cáo, nhiều bị hại: lưu ý riêng
Với nhóm người lao động cùng kiện một doanh nghiệp, đơn riêng thường hợp lý hơn vì số tiền lương, thời gian làm việc, mức trợ cấp của mỗi người khác nhau. Có thể dùng chung phần trình bày lý do về cách toà sơ thẩm đánh giá chính sách của doanh nghiệp, nhưng phần yêu cầu phải theo con số của từng người. Người lao động trong nhiều tranh chấp lao động thuộc diện được miễn án phí theo quy định hiện hành, nên mỗi người cần nộp đơn đề nghị miễn của chính mình.
Trong vụ án hình sự, mỗi bị cáo kháng cáo cho chính mình; một bị cáo không kháng cáo thay cho bị cáo khác, kể cả khi là người thân. Nhiều bị hại trong cùng vụ cũng nên kháng cáo riêng phần bồi thường của mình, vì thiệt hại của mỗi người được tính riêng.
Khi nhóm lớn, số tiền đáng kể, hoặc quyền lợi trong nhóm có chỗ va nhau, nên có luật sư giúp sắp xếp từ đầu: ai kháng cáo phần nào, có nên dùng chung một người đại diện theo uỷ quyền hay không.
Câu hỏi thường gặp
Một đơn kháng cáo có nhiều người cùng ký có hợp lệ không?
Luật quy định nội dung đơn theo người kháng cáo, không cấm nhiều người cùng đứng tên một đơn. Đơn chung cần ghi đủ thông tin, phạm vi, yêu cầu và chữ ký hoặc điểm chỉ của từng người. Nên hỏi toà nơi nộp nếu không chắc cách trình bày.
Anh cả có thể ký thay các em trong đơn kháng cáo chung không?
Không, trừ khi các em có văn bản uỷ quyền hợp lệ cho anh cả với nội dung kháng cáo. Toà coi đơn là của những người đã ký; ai không ký và không uỷ quyền thì coi như chưa kháng cáo, dù tên có trong đơn.
Nhiều người cùng kháng cáo thì mỗi người có phải nộp tạm ứng án phí phúc thẩm không?
Người kháng cáo phải nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo thông báo của toà, trừ người được miễn hoặc không phải nộp. Cách toà thông báo cho từng người trong nhóm tuỳ vụ việc, nên mỗi người đọc kỹ thông báo gửi cho mình và hỏi toà nếu chưa rõ.
Một người trong nhóm rút kháng cáo thì những người khác có bị ảnh hưởng không?
Kháng cáo của những người còn lại vẫn được giải quyết. Việc một người rút chỉ áp dụng cho phần kháng cáo của người đó, nhưng có thể làm thay đổi cách nhìn tổng thể của vụ việc, nhất là trong vụ chia tài sản chung hay chia thừa kế.
Người trong nhóm ở xa, không về ký kịp đơn chung thì sao?
Những người đã ký nên nộp đơn trước để giữ hạn của mình. Người ở xa làm đơn riêng và gửi qua bưu điện, ngày kháng cáo tính theo dấu bưu điện nơi gửi. Không nên chờ đủ chữ ký mà để hạn trôi.
Có thể dùng chung một luật sư cho cả nhóm kháng cáo không?
Có thể, nếu quyền lợi của các thành viên không mâu thuẫn nhau. Khi quyền lợi có chỗ va nhau, như trong vụ chia thừa kế mà mỗi người muốn một phần khác nhau, luật sư thường phải cân nhắc việc nhận đại diện cho tất cả. Nên trao đổi thẳng điều này ngay từ đầu.