KhangCao.comKháng Cáo
Kháng cáo án dân sự, kinh doanh thương mại

Bị tuyên phải trả lãi chậm thanh toán: kháng cáo phần tiền lãi trong bản án

Phần lãi trong bản án hay sai ở mốc bắt đầu, lãi suất áp dụng và việc cộng chồng. Bài hướng dẫn kiểm lại từng yếu tố trước khi kháng cáo phần lãi.

Over the shoulder view of an accountant at a cluttered desk in a small Hanoi office, pressing keys on a desk calculator beside blank ledgers, cool fluorescent light

Phần tiền lãi trong bản án được xác định bởi bốn yếu tố: số tiền gốc làm căn cứ, mốc bắt đầu tính, mốc kết thúc, và lãi suất áp dụng. Sai một yếu tố là con số cuối lệch, có khi lệch tới vài chục phần trăm của khoản nợ. Vì phần này thuần tính toán, nó là một trong những phần dễ kháng cáo nhất nếu bạn chỉ ra được lỗi bằng con số.

Bài này không nói về lãi trong hợp đồng vay tiền giữa cá nhân, mà về lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền nói chung: bên mua chậm trả tiền hàng, chủ đầu tư chậm thanh toán cho nhà thầu, bên thuê chậm trả tiền thuê, bên phải hoàn trả tiền chậm hoàn. Bài viết cho cả bên bị buộc trả lãi muốn giảm và bên được hưởng lãi thấy toà tính thiếu.

Lãi chậm thanh toán trong luật dân sự và luật thương mại khác nhau thế nào

Với nghĩa vụ trả tiền theo luật dân sự, Bộ luật Dân sự 2015 quy định bên chậm trả tiền phải trả lãi trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất do các bên thoả thuận nhưng không vượt mức trần của lãi suất vay thoả thuận; nếu không có thoả thuận thì áp dụng mức bằng một nửa mức trần đó. Mức trần lãi suất vay thoả thuận hiện là 20%/năm, nên lãi chậm trả không có thoả thuận thường được tính ở mức 10%/năm.

Với hoạt động thương mại, Luật Thương mại 2005 quy định bên vi phạm nghĩa vụ thanh toán phải trả lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. "Lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường" không phải con số cố định; toà thường căn cứ vào mức của một số ngân hàng thương mại vào thời điểm liên quan.

Điểm cần kiểm đầu tiên vì thế là toà đã xếp quan hệ của bạn vào luật dân sự hay luật thương mại. Hai doanh nghiệp mua bán hàng hoá thường thuộc thương mại; một cá nhân mua hàng tiêu dùng của cửa hàng thường thuộc dân sự. Xếp nhầm thì lãi suất áp dụng nhầm, và đây là căn cứ kháng cáo về áp dụng pháp luật.

Bốn yếu tố của phần lãi và cách tự kiểm

Bạn có thể tự dựng lại phép tính của toà bằng bốn yếu tố dưới đây. Thường phần nhận định của bản án có ghi đủ; nếu thiếu, đó cũng là một điểm đáng nêu vì không ai kiểm được cách tính.

Yếu tốChỗ hay saiCách kiểm
Số tiền làm căn cứTính lãi trên cả tổng hợp đồng thay vì phần chậm trả; không trừ các lần đã trả một phầnLập bảng từng kỳ thanh toán, số đã trả, số còn nợ theo từng thời điểm
Mốc bắt đầuLấy ngày ký hợp đồng thay vì ngày đến hạn thanh toán; bỏ qua thời gian gia hạn đã thoả thuậnĐối chiếu điều khoản thanh toán, phụ lục gia hạn, biên bản nghiệm thu
Mốc kết thúcTính quá ngày xét xử sơ thẩm hoặc dừng sớm hơnKiểm ngày toà ghi là ngày chốt lãi
Lãi suấtÁp dụng mức thương mại cho quan hệ dân sự hoặc ngược lại; áp dụng mức thoả thuận vượt trầnXác định loại quan hệ, đọc điều khoản lãi trong hợp đồng, so với mức luật cho phép

Ví dụ giả định: số tiền chậm trả 500 triệu đồng, lãi suất áp dụng 10%/năm, thời gian chậm 18 tháng, lãi khoảng 75 triệu đồng. Nếu toà lấy mốc bắt đầu sớm hơn 6 tháng, lãi thành khoảng 100 triệu đồng. Chênh 25 triệu đồng chỉ vì một mốc thời gian, và mốc đó có thể kiểm bằng hợp đồng.

Mốc đến hạn thanh toán: chứng cứ nào quyết định

Điều kiện thanh toán ghi trong hợp đồng. Nhiều hợp đồng không ghi một ngày cố định mà ghi "thanh toán trong 30 ngày kể từ khi nhận đủ hoá đơn và biên bản nghiệm thu". Khi đó nghĩa vụ trả tiền chỉ đến hạn khi điều kiện đã xảy ra. Nếu bản án tính lãi từ ngày giao hàng trong khi hồ sơ thanh toán được gửi muộn hơn nhiều, bên phải trả có căn cứ đề nghị dời mốc bắt đầu.

Biên bản nghiệm thu và hồ sơ đề nghị thanh toán. Trong hợp đồng thi công, gia công hay cung cấp dịch vụ, ngày ký biên bản nghiệm thu và ngày bên kia nhận hồ sơ đề nghị thanh toán thường là mốc quan trọng nhất. Giữ bằng chứng ngày gửi, ngày nhận: biên nhận, thư điện tử, phiếu chuyển phát.

Thông báo đòi tiền. Với nghĩa vụ không xác định thời hạn, thời điểm bên có quyền yêu cầu thực hiện là căn cứ để xác định bên kia bắt đầu chậm. Văn bản đòi tiền đầu tiên có ngày rõ ràng vì vậy rất có giá trị cho bên được hưởng lãi.

Thoả thuận gia hạn. Một tin nhắn đồng ý "lùi sang cuối quý" có thể làm thay đổi mốc chậm trả. Bên phải trả nên nộp đủ những trao đổi như vậy; bên được hưởng nên kiểm xem việc gia hạn có kèm điều kiện mà bên kia đã không làm hay không.

Những lỗi tính lãi hay gặp trong bản án

Cộng chồng phạt vi phạm, bồi thường và lãi cho cùng một hậu quả. Phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và lãi chậm trả là ba chế tài khác nhau, có thể cùng tồn tại nếu thoả thuận và luật cho phép. Nhưng nếu khoản bồi thường được tính chính bằng khoản lãi mất đi, rồi toà lại buộc trả thêm lãi chậm trả cho cùng thời gian, bên phải trả có cơ sở kháng cáo vì một thiệt hại bị tính hai lần.

Tính lãi trên tiền lãi. Bộ luật Dân sự có quy định riêng về lãi trên nợ lãi chưa trả trong hợp đồng vay có lãi, với lãi suất và điều kiện cụ thể. Ngoài phạm vi đó, việc nhập lãi vào gốc để tiếp tục tính lãi cần có căn cứ thoả thuận và pháp luật. Nếu bản án nhập lãi vào gốc mà không giải thích căn cứ, nên nêu trong kháng cáo.

Bỏ qua lỗi của bên được hưởng lãi. Bên bán giao hàng thiếu chứng từ, bên mua chưa thể thanh toán vì không đủ hồ sơ. Nếu chậm trả xuất phát một phần từ bên kia, việc tính lãi cho toàn bộ thời gian có thể không đúng.

Không áp dụng thoả thuận lãi thấp hơn. Hợp đồng ghi lãi chậm trả thấp hơn mức luật, nhưng toà áp dụng mức luật. Thoả thuận hợp pháp của các bên được ưu tiên, bên phải trả có thể kháng cáo.

Tính thiếu cho bên được hưởng. Ngược lại, toà áp dụng mức dân sự cho quan hệ thương mại, hoặc dừng tính lãi trước ngày xét xử mà không giải thích. Bên được hưởng lãi có thể kháng cáo phần thiếu, kèm bảng tính.

Đoạn lãi chậm thi hành án ở cuối bản án

Hầu hết bản án buộc trả tiền đều có một đoạn quen thuộc: kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong khoản tiền thì hằng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định. Đoạn này áp dụng cho giai đoạn sau khi bản án có hiệu lực, khác với phần lãi tính tới ngày xét xử.

Đoạn này hiếm khi là đối tượng kháng cáo vì nó được viết theo khuôn quy định. Tuy vậy, vẫn có lỗi đáng chú ý: bản án áp dụng mức lãi suất chậm thi hành án không phù hợp với loại nghĩa vụ, chẳng hạn áp dụng lãi suất của hợp đồng tín dụng cho một nghĩa vụ dân sự thông thường, hoặc ngược lại. Nếu bạn thấy đoạn này khác thường so với bản án cùng loại, nên hỏi người làm nghề.

Bên phải trả cũng nên hiểu đoạn này để thấy rằng kéo dài không có lợi: sau khi bản án có hiệu lực và có đơn yêu cầu thi hành, lãi tiếp tục chạy cho tới khi trả xong.

Kháng cáo phần lãi từng bước

Kháng cáo phần lãi là kháng cáo bằng con số. Một bảng tính rõ ràng thường thuyết phục hơn nhiều trang lập luận.

  1. Tách đoạn lãi trong phần quyết định và đoạn giải thích trong phần nhận định; chép lại số gốc, mốc, lãi suất toà dùng.
  2. Dựng bảng tính riêng theo từng giai đoạn: mỗi lần số nợ thay đổi (do trả một phần) là một dòng mới.
  3. Ghi căn cứ cho từng yếu tố: điều khoản hợp đồng về hạn thanh toán, phụ lục gia hạn, chứng từ thanh toán.
  4. Xác định lỗi là do yếu tố nào: mốc, lãi suất, số gốc hay cộng chồng chế tài.
  5. Viết đơn kháng cáo chỉ phần lãi nếu bạn đồng ý với các phần khác, nêu con số bạn cho là đúng.
  6. Đính kèm bảng tính như một tài liệu trình bày; có thể nhờ kế toán hoặc người làm nghề kiểm trước.

Một bảng tính đơn giản trên giấy, có cột thời gian, số dư nợ, số ngày, lãi suất và tiền lãi, là đủ. Toà cần thấy được cách bạn đi tới con số, không cần bảng tính phức tạp.

Có đáng kháng cáo chỉ vì phần lãi không

Câu trả lời phụ thuộc vào độ lớn của khoản chênh. Với khoản nợ nhỏ, chênh lệch vài triệu đồng tiền lãi có thể không bù được thời gian và chi phí của giai đoạn phúc thẩm, cộng với việc bạn có thể phải chịu án phí phúc thẩm nếu kháng cáo không được chấp nhận. Với hợp đồng thương mại giá trị lớn, kéo dài nhiều năm, khoản chênh có thể lên tới hàng trăm triệu đồng và đáng được xem xét kỹ.

Kháng cáo chỉ phần lãi còn có một lợi ích: phần nợ gốc không bị kháng cáo có thể có hiệu lực khi hết hạn và được thi hành trước. Bên được hưởng nhận được phần lớn tiền sớm hơn; bên phải trả có thể chủ động trả phần gốc để ngừng phát sinh thêm lãi trên phần đó.

Nếu bạn không chắc bảng tính của mình đúng, hãy nhờ người có chuyên môn kiểm trước khi nộp. Một kháng cáo nêu con số sai làm giảm độ tin cậy của toàn bộ lập luận.

Câu hỏi thường gặp

Lãi chậm thanh toán giữa hai công ty tính theo lãi suất nào?

Nếu hợp đồng có thoả thuận lãi chậm thanh toán hợp pháp thì áp dụng thoả thuận. Nếu không, theo Luật Thương mại là lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán, trừ khi pháp luật có quy định khác. Toà thường tham khảo mức của một số ngân hàng thương mại.

Hợp đồng không ghi lãi chậm trả thì có bị tính lãi không?

Có thể. Với nghĩa vụ trả tiền theo luật dân sự, bên chậm trả phải trả lãi trên số tiền chậm trả dù hợp đồng không ghi, theo mức luật quy định khi không có thoả thuận. Với quan hệ thương mại, luật cũng có quy định lãi khi không có thoả thuận khác.

Đã trả một phần nợ thì lãi tính trên số nào?

Lãi được tính trên số tiền còn chậm trả trong từng khoảng thời gian. Mỗi lần trả một phần, số tiền làm căn cứ giảm xuống. Nếu bản án tính trên tổng số ban đầu cho cả thời gian, đây là lỗi đáng kháng cáo.

Kháng cáo phần lãi có làm chậm việc thi hành phần nợ gốc không?

Nếu chỉ kháng cáo phần lãi và không ai kháng cáo phần nợ gốc, phần nợ gốc có thể có hiệu lực khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị và được thi hành trước. Nên kiểm với toà hoặc người làm nghề về việc phần nào có liên quan với nhau.

Phạt vi phạm và lãi chậm trả có cùng được đòi không?

Có thể, nếu hợp đồng có thoả thuận phạt vi phạm hợp pháp và nghĩa vụ chậm thanh toán đã xảy ra. Hai khoản có bản chất khác nhau. Điều cần tránh là tính hai lần cho cùng một thiệt hại, chẳng hạn vừa bồi thường bằng tiền lãi mất đi vừa tính lãi chậm trả.

Toà tính lãi đến ngày nào?

Phần lãi trong bản án thường được tính tới ngày xét xử sơ thẩm. Giai đoạn sau khi bản án có hiệu lực được điều chỉnh bằng đoạn lãi chậm thi hành án ở cuối bản án. Nếu bản án tính lãi tới một mốc khác mà không giải thích, bạn có thể nêu trong kháng cáo.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.