Theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đơn kháng cáo phải có năm nội dung chính: ngày, tháng, năm làm đơn; tên, địa chỉ và cách liên lạc của người kháng cáo; kháng cáo toàn bộ hay phần nào của bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực; lý do kháng cáo và yêu cầu của người kháng cáo; chữ ký hoặc điểm chỉ. Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Luật Tố tụng hành chính 2015 đòi hỏi những nội dung gần giống như vậy. Đơn đủ năm phần thì toà sơ thẩm có cơ sở xét tiếp; thiếu phần nào thì thường bị yêu cầu sửa, bổ sung, và việc đi lại mất thêm ngày trong khi hạn kháng cáo vẫn trôi.
Nhiều người nghĩ đơn kháng cáo phải viết thật dài, kể lại toàn bộ vụ việc. Thực tế ngược lại: toà phúc thẩm sẽ nhận nguyên hồ sơ vụ án, nên đơn chỉ cần nói rõ bạn là ai, bạn phản đối điểm nào trong bản án và bạn muốn toà cấp trên làm gì. Phần dưới đi qua từng nội dung, chỉ ra chỗ hay sai và cách điền cho chắc.
Năm nội dung luật đòi hỏi trong đơn
Đối chiếu đơn của bạn với danh sách sau trước khi ký. Mỗi dòng là một nội dung mà toà sơ thẩm sẽ kiểm khi nhận đơn:
- Ngày, tháng, năm làm đơn. Ghi ngày thật bạn ký đơn. Ngày này khác với ngày toà nhận đơn và khác với ngày bưu điện đóng dấu; cả ba có thể không trùng nhau, và mỗi ngày có ý nghĩa riêng khi xét hạn.
- Thông tin người kháng cáo. Họ tên đầy đủ, địa chỉ nơi cư trú để toà gửi giấy tờ, số điện thoại và thư điện tử nếu có. Nên ghi thêm tư cách tố tụng trong vụ án: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bị cáo, bị hại.
- Bản án, quyết định bị kháng cáo. Số bản án, ngày tuyên, tên toà đã xử sơ thẩm; ghi rõ kháng cáo toàn bộ hay chỉ một phần, và nếu một phần thì phần nào.
- Lý do kháng cáo và yêu cầu. Vì sao bạn cho rằng bản án chưa đúng ở điểm đó, và bạn đề nghị toà phúc thẩm sửa hay huỷ phần nào, theo hướng nào.
- Chữ ký hoặc điểm chỉ. Của chính người kháng cáo; nếu là người đại diện thì người đại diện ký và kèm giấy tờ chứng minh tư cách đại diện; cơ quan, tổ chức thì người đại diện theo pháp luật ký và đóng dấu.
Ngoài năm nội dung trên, đơn nên có tiêu đề rõ ràng, phần kính gửi đúng toà, và danh mục tài liệu kèm theo ở cuối. Những phần này không phải điều kiện bắt buộc theo luật nhưng giúp cán bộ nhận đơn và thẩm phán đọc nhanh, ít hiểu nhầm.
Phần đầu đơn: tiêu đề, kính gửi và người kháng cáo
Tiêu đề chỉ cần một dòng như "Đơn kháng cáo" là đủ. Phần kính gửi nên ghi tên toà án đã xử sơ thẩm, vì luật tố tụng dân sự và hành chính quy định đơn gửi cho toà sơ thẩm; toà này kiểm tra đơn rồi chuyển hồ sơ lên toà cấp trên. Từ ngày 01/7/2025, phần lớn vụ án sơ thẩm do toà án nhân dân khu vực xử, nên tên toà trên bản án của bạn rất có thể là một toà khu vực. Cứ chép đúng tên toà như ghi ở đầu bản án, không tự đổi theo tên đơn vị hành chính bạn nghĩ là đúng.
Phần người kháng cáo cần khớp với cách bản án ghi tên bạn. Bản án ghi họ tên kèm năm sinh, địa chỉ nào thì đơn nên dùng lại cách ghi đó, kèm số định danh cá nhân để toà đối chiếu. Nếu sau phiên toà bạn đã chuyển chỗ ở, ghi địa chỉ mới để nhận giấy tờ và thêm một câu "địa chỉ trong bản án là địa chỉ trước đây". Toà gửi thông báo nộp tạm ứng án phí, thông báo về phiên phúc thẩm tới địa chỉ bạn khai; ghi sai địa chỉ là tự cắt mất đường nhận tin.
Ghi tư cách tố tụng giúp toà biết ngay bạn có quyền kháng cáo hay không và kháng cáo trong phạm vi nào. Ví dụ giả định: chị Lan là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ tranh chấp hợp đồng vay giữa chồng và một người quen. Chị ghi rõ tư cách đó ở đầu đơn, rồi trong phần kháng cáo chỉ nói về phần bản án buộc chị cùng trả nợ. Đơn như vậy gọn, đúng vai, toà không phải hỏi lại.
Ghi đúng bản án và phạm vi kháng cáo
Chép số và ngày của bản án. Bản án sơ thẩm luôn có số, năm, ký hiệu loại án và ngày tuyên ở phần đầu. Chép nguyên văn những thông tin này. Nếu bạn kháng cáo một quyết định chứ không phải bản án, như quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, ghi đúng tên loại quyết định và số của nó, vì hạn và cách xét của hai loại khác nhau.
Nói rõ toàn bộ hay một phần. Kháng cáo toàn bộ nghĩa là bạn không đồng ý với cả bản án. Kháng cáo một phần là chỉ phản đối một hoặc vài nội dung trong phần quyết định. Viết mơ hồ kiểu "không đồng ý bản án" làm toà khó biết phạm vi, và có thể bị yêu cầu làm rõ.
Dẫn đúng dòng trong phần quyết định. Phần quyết định của bản án thường đánh số từng mục. Cách chắc nhất là ghi "kháng cáo mục 2 và mục 3 phần quyết định của bản án", kèm tóm tắt ngắn nội dung mục đó. Thẩm phán phúc thẩm đọc là biết ngay bạn nhắm vào đâu.
Nghĩ kỹ phạm vi trước khi hết hạn. Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cho phép thay đổi, bổ sung kháng cáo trước hoặc tại phiên phúc thẩm, nhưng nếu hạn kháng cáo đã hết thì không được vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu. Vì vậy, nếu còn phân vân một phần nào đó, nên đưa phần đó vào đơn ngay từ đầu; rút bớt về sau dễ hơn nhiều so với thêm vào.
Viết lý do và yêu cầu sao cho đủ ý mà không lan man
Phần lý do là chỗ người ta hay viết dài nhất và kém hiệu quả nhất. Toà phúc thẩm cần biết bạn cho rằng toà sơ thẩm sai ở đâu: xác định sự việc chưa đúng, đánh giá chứng cứ chưa đúng, áp dụng pháp luật chưa đúng, hay vi phạm thủ tục. Mỗi lý do nên gắn với một mục trong phần quyết định mà bạn đã kháng cáo. Ba lý do cụ thể có sức nặng hơn ba trang kể khổ.
Câu như "bản án không khách quan, gây thiệt hại nghiêm trọng cho gia đình" không giúp được gì vì không chỉ ra điểm sai. Thay vào đó, viết theo dạng: "Toà sơ thẩm xác định khoản tiền chuyển ngày nào là tiền vay, trong khi tin nhắn kèm theo thể hiện đó là tiền trả hàng; chứng cứ này có trong hồ sơ, nhưng bản án không nhận định". Một câu như vậy cho thẩm phán biết cần mở bút lục nào ra đối chiếu.
Phần yêu cầu là câu kết của lý do: bạn muốn toà phúc thẩm sửa bản án theo hướng nào, hay huỷ phần nào để xét xử lại. Yêu cầu phải nằm trong khả năng toà phúc thẩm làm được và nằm trong phạm vi bạn đã kháng cáo. Nếu lúc làm đơn bạn chưa đủ thời gian trình bày hết lý do, có thể ghi lý do chính trong đơn và nói sẽ gửi văn bản trình bày chi tiết sau; phần chứng minh sâu hơn có thể gửi bổ sung trong quá trình toà giải quyết.
Mỗi phần của đơn, toà kiểm gì và lỗi hay gặp
Bảng dưới gom lại những gì cán bộ toà thường xem khi nhận đơn kháng cáo, và những lỗi khiến đơn bị trả để sửa:
| Phần của đơn | Toà xem gì | Lỗi hay gặp |
|---|---|---|
| Ngày làm đơn | Có ngày không, đối chiếu với ngày nhận hoặc dấu bưu điện | Bỏ trống ngày, ghi ngày dự định gửi thay vì ngày ký |
| Người kháng cáo | Có phải người có quyền kháng cáo trong vụ này không | Người thân ký thay mà không có giấy uỷ quyền |
| Bản án bị kháng cáo | Đúng số, ngày, toà; toàn bộ hay một phần | Chép sai số bản án, nhầm với quyết định khác cùng vụ |
| Lý do và yêu cầu | Có lý do, có yêu cầu cụ thể, nằm trong phạm vi kháng cáo | Chỉ kêu oan chung chung, yêu cầu ngoài phạm vi bản án |
| Chữ ký, điểm chỉ | Đúng người kháng cáo hoặc người đại diện hợp lệ | Không ký, ký thay, điểm chỉ mà không có người làm chứng khi người kháng cáo không biết chữ |
Khi đơn chưa đúng, theo luật tố tụng dân sự toà sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo làm lại hoặc sửa đổi, bổ sung đơn; người kháng cáo không làm theo thì đơn có thể bị trả lại. Đó là lý do nên tự rà đơn theo bảng này trước khi nộp.
Chữ ký, điểm chỉ và khi người khác ký thay
Người kháng cáo là cá nhân đủ năng lực hành vi tố tụng thì tự ký hoặc điểm chỉ vào đơn. Điểm chỉ dùng khi không ký được; nếu người kháng cáo không biết chữ, khuyết tật nhìn hoặc không tự làm đơn được, luật tố tụng dân sự cho phép nhờ người khác làm hộ, nhưng phải có người có năng lực hành vi tố tụng đầy đủ làm chứng và ký xác nhận vào đơn.
Nếu người khác đứng ra kháng cáo thay bạn với tư cách đại diện theo uỷ quyền, người đó ký vào đơn và kèm văn bản uỷ quyền. Văn bản đó phải bao trùm việc kháng cáo; uỷ quyền chỉ để "tham gia phiên toà sơ thẩm" có thể không đủ. Phạm vi uỷ quyền là chuyện riêng cần đọc kỹ, ở đây chỉ nhắc rằng thiếu nó là đơn có thể bị coi như người không có quyền kháng cáo đứng tên.
Với doanh nghiệp, người ký là người đại diện theo pháp luật hoặc người được người đó uỷ quyền, kèm đóng dấu nếu doanh nghiệp có dấu. Với người chưa thành niên hay người mất năng lực hành vi dân sự, người đại diện theo pháp luật của họ đứng tên. Khi tình huống ký thay phức tạp, như doanh nghiệp vừa đổi người đại diện sau phiên toà, nên hỏi luật sư hoặc hỏi luật sư trên AI Cố Vấn trước khi nộp để khỏi mất hạn vì một chữ ký sai người.
Rà đơn lần cuối trước khi nộp
Trước khi đặt bút ký hoặc trước khi mang đơn đi nộp, đi một lượt theo thứ tự sau:
- Đặt bản án cạnh đơn, đối chiếu số bản án, ngày tuyên, tên toà, họ tên các đương sự từng chữ.
- Kiểm lại phạm vi: các mục trong phần quyết định mà bạn kháng cáo có được liệt kê đủ chưa, có mục nào đang phân vân mà chưa đưa vào không.
- Đọc phần lý do, gạch bỏ câu chỉ bày tỏ cảm xúc mà không chỉ ra điểm sai cụ thể.
- Đọc phần yêu cầu: mỗi yêu cầu gắn với một phần đã kháng cáo, viết rõ hướng sửa hoặc phần đề nghị huỷ.
- Kiểm địa chỉ nhận giấy tờ và số điện thoại, nhất là khi bạn đã chuyển chỗ ở sau phiên toà.
- Ký hoặc điểm chỉ, ghi ngày ký; người đại diện thì kẹp sẵn giấy uỷ quyền hoặc giấy tờ chứng minh tư cách.
- Lập danh mục tài liệu kèm theo ở cuối đơn và chụp lại toàn bộ đơn cùng tài liệu trước khi nộp.
Hạn kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm thường là 15 ngày, cách tính từ ngày nào tuỳ việc bạn có mặt lúc tuyên án hay không; đừng để việc chau chuốt câu chữ ăn hết số ngày đó. Một đơn đủ năm phần, nộp sớm, tốt hơn một đơn hoàn hảo nộp vào ngày cuối.
Câu hỏi thường gặp
Đơn kháng cáo có cần theo mẫu của toà không?
Luật quy định nội dung chính của đơn chứ không bắt viết đúng một mẫu cố định. Toà có thể có biểu mẫu tham khảo, dùng cũng được, nhưng một đơn tự viết đủ năm nội dung bắt buộc, rõ ràng và có chữ ký vẫn là đơn hợp lệ về hình thức.
Đơn kháng cáo viết tay có được không?
Được. Đơn viết tay hay đánh máy đều được nhận, miễn là chữ đọc rõ, đủ nội dung và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo. Nếu chữ viết tay khó đọc, nên nhờ người đánh máy rồi bạn đọc lại kỹ trước khi ký.
Có cần ghi điều luật vào đơn kháng cáo không?
Không bắt buộc. Nếu bạn biết chắc toà sơ thẩm áp dụng sai điều luật nào thì nêu ra là tốt, nhưng dẫn sai điều luật còn tệ hơn không dẫn. Người không có chuyên môn nên tập trung vào sự việc, chứng cứ và điểm sai cụ thể trong bản án.
Đơn kháng cáo nên dài bao nhiêu trang?
Không có giới hạn, nhưng một đến ba trang thường là đủ cho phần lớn vụ việc. Phần trình bày dài, kèm phân tích chứng cứ, có thể làm thành văn bản riêng gửi kèm hoặc gửi bổ sung, để đơn chính vẫn gọn và dễ kiểm.
Ghi thiếu số điện thoại trong đơn có làm đơn không hợp lệ không?
Luật ghi số điện thoại, thư điện tử theo dạng nếu có, nên thiếu chúng thường không làm đơn mất hiệu lực. Tuy vậy, ghi đủ giúp toà liên hệ nhanh khi cần bạn bổ sung, tránh trường hợp thông báo gửi qua bưu điện đến chậm mà bạn không hay biết.
Nhiều người cùng thua kiện có làm chung một đơn kháng cáo được không?
Mỗi người có quyền kháng cáo riêng. Thực tế có trường hợp nhiều người cùng ký một đơn, nhưng an toàn hơn là mỗi người một đơn, hoặc ít nhất đơn chung phải ghi rõ từng người, tư cách và phần kháng cáo của từng người, kèm chữ ký đầy đủ của tất cả.