Rút kháng cáo để đổi lấy một thoả thuận với bên kia là cách khép vụ việc thường gặp, nhưng chỉ an toàn khi thoả thuận đó đã được ghi bằng văn bản, phần quan trọng nhất đã được thực hiện, và bạn hiểu rằng sau khi rút, thứ có giá trị cưỡng chế là bản án sơ thẩm chứ không phải thoả thuận. Nếu thoả thuận khác bản án mà bên kia không giữ lời, họ vẫn có quyền yêu cầu thi hành đúng bản án.
Bài này dành cho người đang đứng trước lời đề nghị kiểu "anh rút kháng cáo đi, bên em giảm cho một phần", hoặc ngược lại, người muốn bên kia rút kháng cáo. Nội dung gồm: so sánh rút kháng cáo với việc đề nghị toà phúc thẩm công nhận thoả thuận, danh mục những gì phải chốt, thứ tự làm, và cách ghi thoả thuận để hạn chế tranh cãi sau này.
Rút kháng cáo không biến thoả thuận thành bản án
Khi bạn rút toàn bộ kháng cáo và không còn kháng cáo, kháng nghị nào khác, toà phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm và bản án sơ thẩm có hiệu lực nguyên văn. Toà không ghi nhận, không xem xét thoả thuận mà hai bên làm bên ngoài. Thoả thuận đó vẫn có giá trị như một giao dịch dân sự giữa hai bên, nhưng nó không tự động thay thế những gì bản án đã tuyên.
Hệ quả thực tế: giả sử bản án buộc bạn trả một khoản tiền, hai bên thoả thuận ngoài toà rằng bạn chỉ trả một phần trong vòng vài tháng, đổi lại bạn rút kháng cáo. Nếu sau đó bên kia đổi ý, họ vẫn có quyền nộp yêu cầu thi hành án theo đúng bản án. Bạn có thể dùng thoả thuận làm căn cứ để thương lượng tiếp, đề nghị thoả thuận thi hành án trước chấp hành viên, hoặc khởi kiện một vụ khác về thoả thuận, nhưng tất cả đều tốn thêm thời gian.
Điều ngược lại cũng đúng. Nếu bạn là bên được hưởng theo bản án và bên kia rút kháng cáo để đổi lấy việc bạn giảm cho họ một phần, bạn có quyền yêu cầu thi hành cả bản án; nhưng làm vậy sau khi đã hứa là phá vỡ cam kết và có thể bị kiện ngược. Thoả thuận nên được viết sao cho cả hai bên đều thấy được ràng buộc.
Rút kháng cáo hay đề nghị toà phúc thẩm công nhận thoả thuận
Khi hai bên đã thống nhất được, có hai con đường chính. Bảng dưới so sánh để bạn chọn; với vụ việc phức tạp, nên hỏi luật sư trước khi chọn.
| Tiêu chí | Rút kháng cáo, thoả thuận ngoài toà | Đề nghị toà phúc thẩm công nhận thoả thuận |
|---|---|---|
| Văn bản có giá trị thi hành | Bản án sơ thẩm | Bản án phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo thoả thuận |
| Thoả thuận có được toà kiểm tra | Không | Có: toà xem thoả thuận có tự nguyện, không trái luật, không trái đạo đức xã hội |
| Tốc độ | Nhanh, chỉ cần đơn rút | Phải đợi tới phiên phúc thẩm hoặc thủ tục toà áp dụng |
| Khi bên kia không giữ lời | Phải đòi theo thoả thuận, trong khi bên kia vẫn có quyền thi hành bản án | Yêu cầu thi hành theo bản án phúc thẩm đã ghi đúng nội dung thoả thuận |
| Hợp với tình huống | Thoả thuận đã thực hiện xong hoặc gần xong ngay khi rút | Thoả thuận có lịch trả dài, nhiều nghĩa vụ, hoặc hai bên chưa đủ tin nhau |
Con đường thứ hai có một điều kiện: thoả thuận được đưa ra trước toà phúc thẩm, các bên có mặt và thống nhất về toàn bộ hoặc phần nội dung tranh chấp. Chi tiết về thủ tục công nhận thoả thuận tại phiên phúc thẩm nằm ở giai đoạn xét xử phúc thẩm; ở đây chỉ cần biết rằng nó tồn tại và thường an toàn hơn khi nghĩa vụ kéo dài.
Những điều phải chốt bằng văn bản trước khi rút
Nếu đã chọn rút kháng cáo, văn bản thoả thuận giữa hai bên nên có ít nhất các nội dung sau. Văn bản rõ ràng là thứ bảo vệ cả hai phía:
- Nhận diện vụ án: số và ngày của bản án sơ thẩm, tên toà đã xử, để không ai nói thoả thuận là về việc khác.
- Nội dung khác với bản án: số tiền thực trả, thời hạn, cách trả, tài sản giao nhận; ghi rõ khoản nào thay thế khoản nào trong phần quyết định của bản án.
- Cam kết về thi hành án: bên được hưởng cam kết không yêu cầu thi hành vượt quá nội dung đã thoả thuận, hoặc chỉ yêu cầu thi hành theo đúng thoả thuận; nếu đã có yêu cầu thi hành án thì cùng làm thoả thuận thi hành án.
- Cam kết về kháng cáo: ai rút kháng cáo, rút toàn bộ hay một phần, thời hạn nộp đơn rút. Nếu cả hai cùng kháng cáo thì cả hai cùng rút.
- Điều khoản khi vi phạm: nếu bên phải trả chậm hoặc không trả, hệ quả là gì, ví dụ khoản còn lại trở thành đến hạn ngay, hay bên được hưởng được yêu cầu thi hành phần chênh lệch theo bản án.
- Án phí: ai chịu khoản án phí phúc thẩm phát sinh do việc rút, ai chịu chi phí thi hành án nếu có.
- Chữ ký của cả hai bên, kèm ngày ký; với khoản tiền lớn, cân nhắc công chứng hoặc có người làm chứng.
Đừng chép một "mẫu thoả thuận" trên mạng rồi điền tên. Mỗi bản án có cấu trúc riêng, và điều khoản về thi hành án phải khớp với chính phần quyết định của bản án đó.
Thứ tự làm để không ai bị hớ
Thứ tự các bước quan trọng không kém nội dung. Một trình tự hợp lý cho trường hợp phổ biến, khi bên thua sơ thẩm rút kháng cáo và được giảm nghĩa vụ:
- Hai bên thống nhất nội dung, viết văn bản thoả thuận, ký.
- Bên phải trả thực hiện phần nghĩa vụ chính, hoặc phần đầu tiên theo lịch, có chứng từ chuyển khoản hoặc biên nhận ghi rõ là tiền thực hiện theo thoả thuận liên quan tới bản án nào.
- Bên rút kháng cáo nộp đơn rút cho toà đang giữ hồ sơ, giữ bằng chứng nộp, gửi bản chụp cho bên kia.
- Nếu bên kia cũng có kháng cáo, họ nộp đơn rút cùng thời điểm, theo cam kết đã ghi.
- Chờ quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm; khi bản án có hiệu lực, nếu thoả thuận còn nghĩa vụ chưa xong, hai bên có thể cùng đề nghị cơ quan thi hành án dân sự ghi nhận thoả thuận thi hành án.
Nếu bên kia đòi bạn rút trước rồi mới trả, đó là dấu hiệu nên chậm lại. Bạn có thể đề nghị phương án ngược: họ trả một phần, bạn rút, họ trả phần còn lại; hoặc chuyển sang đề nghị toà phúc thẩm công nhận thoả thuận.
Khi bạn là bên được hưởng và bên kia xin rút kháng cáo
Tình huống ngược lại cũng hay gặp: bạn thắng ở sơ thẩm, bên kia kháng cáo, rồi họ gợi ý sẽ rút nếu bạn bớt cho một phần. Đây không phải là chuyện sai trái; nhiều khi một khoản tiền chắc chắn nhận sớm có giá trị hơn một bản án lớn hơn mà phải chờ thêm nhiều tháng, rồi còn phải đi thi hành. Nhưng bạn cần nhìn rõ mình đang đổi cái gì lấy cái gì.
Hãy ước lượng ba thứ. Một là khả năng toà phúc thẩm giữ nguyên phần có lợi cho bạn, dựa trên lý do kháng cáo của bên kia: họ có chứng cứ mới không, có chỉ ra được sai sót cụ thể không. Hai là khả năng thực tế thu được tiền: bên kia có tài sản, thu nhập để thi hành không. Ba là thời gian và chi phí bạn còn phải bỏ ra nếu không thoả thuận.
Nếu đồng ý, bạn nên đặt điều kiện rõ: bên kia nộp đơn rút trong thời hạn cụ thể, trả phần đầu tiên ngay khi ký, và văn bản ghi rằng nếu họ vi phạm lịch trả thì bạn được yêu cầu thi hành phần chênh lệch theo bản án. Điều khoản này giữ cho thoả thuận có sức nặng ngay cả khi nó không được toà ghi nhận.
Thoả thuận được một phần thì rút một phần
Không phải lúc nào hai bên cũng thống nhất được toàn bộ. Ví dụ giả định: trong vụ tranh chấp hợp đồng thi công, hai bên đồng ý được về khoản tiền nghiệm thu còn thiếu, nhưng vẫn bất đồng về tiền phạt chậm tiến độ. Khi đó có thể chốt văn bản cho phần đã đồng ý và người kháng cáo chỉ rút phần kháng cáo tương ứng, giữ lại phần còn tranh chấp để toà phúc thẩm xét.
Cách này có lợi vì thu hẹp tranh chấp, nhưng cần chú ý mối liên hệ giữa các phần. Nếu khoản tiền phạt được tính dựa trên giá trị hợp đồng hoặc khoản thanh toán, toà phúc thẩm có thể phải xem lại các con số liên quan, và kết quả có thể chạm tới phần hai bên tưởng đã chốt. Văn bản thoả thuận nên ghi rõ: dù kết quả phúc thẩm về phần còn tranh chấp ra sao, khoản đã thống nhất vẫn giữ nguyên giữa hai bên.
Khi tới phiên phúc thẩm, hai bên cũng có thể đề nghị toà ghi nhận luôn phần đã thoả thuận được, để mọi thứ nằm trong một bản án duy nhất.
Ba tình huống dễ vỡ
Thoả thuận miệng qua người trung gian. Ví dụ giả định: một người họ hàng đứng ra nói giúp, hai bên "đồng ý" qua điện thoại, rồi một bên rút kháng cáo. Vài tháng sau, người trung gian không nhớ chính xác con số, bên kia nói chưa từng hứa. Không có văn bản thì gần như không có gì để dựa vào.
Doanh nghiệp đổi người đại diện. Thoả thuận do giám đốc cũ ký, sau đó giám đốc mới không công nhận. Với doanh nghiệp, văn bản cần do người có thẩm quyền ký, đóng dấu nếu doanh nghiệp sử dụng con dấu, và tốt nhất có biên bản họp hoặc quyết định nội bộ đi kèm.
Nhiều người cùng được hưởng theo bản án. Bản án chia tiền cho ba anh em, chỉ một người thoả thuận giảm cho bên kia. Thoả thuận đó chỉ ràng buộc người đã ký; hai người còn lại vẫn có quyền yêu cầu thi hành phần của mình. Bên rút kháng cáo cần chắc rằng mọi người được hưởng đều đã ký.
Câu hỏi thường gặp
Rút kháng cáo xong mà bên kia không giữ thoả thuận thì làm gì?
Bản án sơ thẩm đã có hiệu lực và bên kia có quyền yêu cầu thi hành theo bản án. Bạn có thể dùng văn bản thoả thuận để thương lượng lại, đề nghị thoả thuận thi hành án trước chấp hành viên, hoặc khởi kiện về việc vi phạm thoả thuận. Đây là lý do nên chốt và thực hiện phần chính trước khi rút.
Có thể đề nghị toà phúc thẩm ghi nhận thoả thuận thay vì rút kháng cáo không?
Có. Khi các bên thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án tại giai đoạn phúc thẩm và thoả thuận tự nguyện, không trái luật, toà phúc thẩm có thể ra bản án sửa bản án sơ thẩm, công nhận thoả thuận. Cách này giúp thoả thuận có giá trị thi hành.
Thoả thuận ngoài toà có cần công chứng không?
Luật không bắt buộc công chứng cho mọi thoả thuận loại này. Tuy vậy, với khoản tiền lớn, có giao nhận nhà đất, xe, hoặc một bên là doanh nghiệp, công chứng hoặc có người làm chứng giúp hạn chế tranh cãi về chữ ký và nội dung sau này. Có giao dịch mà luật yêu cầu hình thức riêng thì phải theo đúng.
Bên kia đề nghị trả tiền để mình rút kháng cáo trong vụ hình sự thì sao?
Trong vụ án hình sự, bị hại nhận bồi thường từ phía bị cáo là chuyện hợp pháp và thường gặp. Điều cần tránh là bất kỳ lời đe doạ hay hứa hẹn ngoài việc bồi thường. Nhận đủ khoản bồi thường, có giấy biên nhận rõ ràng, rồi hãy quyết định có rút kháng cáo hay không.
Nếu cả hai bên cùng kháng cáo, một bên rút mà bên kia không rút thì sao?
Vụ án vẫn lên phúc thẩm với phần kháng cáo còn lại, và kết quả có thể ảnh hưởng tới phần liên quan tới bên đã rút. Vì vậy thoả thuận nên ghi rõ cả hai cùng rút, cùng thời điểm, và mỗi bên giữ bằng chứng đã nộp đơn rút.
Nên nhờ ai xem giúp văn bản thoả thuận?
Với khoản tiền lớn hoặc nhà đất, nên nhờ luật sư đọc văn bản và đối chiếu với phần quyết định của bản án trước khi ký. Người thuộc diện trợ giúp pháp lý có thể hỏi trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước của tỉnh, thành; nếu văn bản có giao dịch nhà đất, tổ chức hành nghề công chứng sẽ kiểm thêm giấy tờ khi chứng nhận.